Thứ Năm, 10 tháng 9, 2015

GIỚI THIỆU THI PHẨM MỚI

GIỚI THIỆU THI PHẨM “CẬP BẾN BẢY MƯƠI”
Tác giả Kỳ Hải – Phan Đình Ngân
Huế, Mùa Thu 2015

CẬP BẾN BẢY MƯƠI với 152 bài thơ đường luật, trong đó có 34 bài thơ họa của các bạn thơ (được sắp xếp theo trình tự thời gian gửi về tác giả) và 118 bài thơ của tác giả, gồm 5 phần: 
                       1>Mừng 70 Xuân lập nước
                       2>Cập Bến Bảy Mươi với những bài thơ họa của nhiều bạn thơ
                       3>Tản mãn cùng Tôi
                       4>Thơ phụng họa của tác giả
                       5>Thơ được phổ nhạc
Có thể nói, thơ là tri âm tri kỷ của tôi – Kỳ Hải.  Thơ là môt phần đời sống tinh thần quan trọng của tôi.
Là dân làm thơ không chuyên, cũng như bao nhà thơ khác, mỗi đứa con tinh thần được ra đời đâu dám mong có nhiều bạn đọc tìm về:
Thơ tôi rao bán mấy nay
Chưa ai mua hết, tôi bày ra mua…
Tôi vẫn giữ được thói quen: trong khi vừa tìm đọc và thưởng thức thơ của các thi sĩ, của các bạn thơ, thì vừa đam mê chiêm ngưỡng thơ của bản thân mình vậy. Tôi như vừa là kẻ thả thơ lên bầu trời cao mênh mông rồi chính là người nhặt thơ mình về lại mặt đất rộng lớn để ở mọi nơi mọi lúc trong tâm hồn tôi luôn có thơ.
Khi thả đôi vần hòa nghĩa tử
Lúc xe vài tứ quyện ân sinh. (trích bài “Khi đời có thơ”)

Hay, nhiều khi tôi hình dung thơ trong dòng trôi dạt dào và vô định của sông suối bao la, trong muôn thanh âm ồn ã và câm lặng từ nơi bến bãi, rồi ở đó, tôi đã viết:
Chắp nối dòng trôi bờ vực suối
Góp gom chuỗi lặng bến xe tàu
Để nên mạch chảy theo năm tháng
Tràn xuống bể thơ ngập sắc màu. (trích bài “Ta và Thơ”)

Thơ tôi kể về những gian truân vất vả trong đời sống mọi người, khi thì do thiên tai hạn hán:
Vạt gió phơn cào phía bãi giang
Nắng xanh đổ rát cả rừng hoang
Sông mùa nước kiệt đìu hiu quá
Xao xác trưa hè nỗi ngổn ngang (trích bài ”Sông mùa nước cạn”)

Với bao gian nan về giao thông đi lại ngược xuôi trên những miền bãi ngang thường gặp, như:
Đi sang xóm dưới gai đầy động
Sải ngược làng trên cát xếp đồi (trích bài ”Con đường đã mở”)

Và cả khi lao đao bởi sản xuất kinh doanh còn nhiều bất lợi:
Nghề nông, nghề biển... bao dầu dãi
Làm gốm, ươm tơ... mấy chống chèo (trích bài ”Truyền thuyết Ca trù Cổ Đạm”)

Việc nghèo đói chưa dứt, sự phát triển thiếu bền vững ó đâu đó trên những vùng sâu, vùng xa được chia sẻ trong thơ:
Trên nền đá núi không manh trải
Dưới khoảng đêm rừng chẳng bếp soi
Trẻ nhỏ lang thang mơ lớp học
Người già bệnh tật mộng nơi coi
Bao giờ nghèo đói còn đeo đuổi
Thì nỗi cơ hàn chẳng kịp vơi... (trích bài ”Mái lá lắt lay”)

Cũng không thể phủ định, hôm nay, đâu đó vẫn đang còn thiếu lòng kiên định và len lỏi tính cơ hội:
Chim bằng thấm mỏi bay về núi
Lũ nhái thừa cơ uốn cọng rều (trích bài ”Chiều mờ”)

Dựng ghét bài thương vài tứ viết
Thay đen đổi trắng mấy câu lời
Tranh danh tích lợi đâu là đủ
Dấu mẹo bày mưu mấy mới thôi. (trích bài ”Trò gian chính trị”)

Tuy nhiên, ánh sáng vẫn luôn đầy ắp trên bầu trời. Những năm gần đây, quanh ta đã có sự đổi mới căn bản để hy vọng sẽ ổn định đời sống:
Bây giờ có được con đường mở
Xã biển quê tôi sẽ đổi đời. (trích bài ”Con đường đã mở”)

Và  
Đất nước mừng năm thứ Bốn Mươi
Bắc Nam thống nhất – hết chia đôi
Việt Nam vững bước trên đường mới
Vươn tới tương lai mãi sáng tươi. (trích bài ”Thời gian đỏ”)

Thơ tôi nói về người thân – theo cách viết hướng nội, như bố mẹ, anh em, vợ chồng, con cháu:
Ngẫm sự: Mẹ Cha chỉ có một
Trọn đời giành tất cả cho ta. (trích bài ”Ngẫm sự”)

Chú đã đầu quân lính Cụ Hồ
Vào mùa lúa trổ tiết sang Thu
Ra quân Chú lại về thôn xã
Trọn áo nâu sồng trải nắng mưa. (trích bài “Người em bộ đội”)

Giản dị dịu hiền thân lúa nước
Chân thành mộc mạc nhánh sim đồi
Bên Mình yên ấm và vui – khỏe
Nên một gia phong thỏa mộng đời. (trích bài thơ tự họa “Mình thương”)

Các Cháu giờ đây lớn thật rồi
Hồn nhiên trong sáng tuổi niên thời
Tuổi thơ học tập và rèn luyện
Hướng tới tương lai xứng với đời. (trích bài  thơ tự họa “Cháu yêu”)

Bên cạnh đó, tôi đã nhân cách hóa những con giáp gần gũi với cuộc sống thường niên:
Nào là “con Mão” từ trong bài “Con mèo mướp”:
Có lúc thi tài leo cột bỡn
Đôi khi đọ sức vọt trần chơi
Coi chừng bọn nhắt sờ xơ mép
Cảnh báo sói con gặm cụt đuôi.

Nào là “con Dần”, trích trong bài “Cọp giấy”:
Cháy sém ngày thơ lông cứ đốm
Mài rèn thuở nhỏ vuốt càng tôi
Thương thay mãnh hổ không rừng rú
Họa lắm còn tranh vẽ để chơi.

Nào là “con Dậu”, (trích trong bài “Nhắn chú gà choai”) thì:
Đôi khi cúng tế ngồi bàn thượng
Thi thoảng đỏ đen chọi sới xa
Đẳng cấp khác nhau qua tiếng gáy
Cần gì đấm đá nát xương da.

Nào là "con Thân" (trích trong bài "Thương con khỉ nhỏ"):
Cành cao chẳng sợ leo sưng bụng
Dốc đứng nào lo trượt bể gan
Bắt chước vì chương trình lập sẵn
Ngu ngơ bởi thực tế nghèo nàn.

Là "con Tuất", trích trong bài "Con Cún trông nhà"
Lạ đến canh chừng giương mắt sủa
Quen sang hớn hở vẫy đuôi cà
Trung thành với chủ dù nghèo – vượng
Gắn bó theo nhà mặc cận – xa.

Có cả "con Ngọ" đã vào thơ, từ trong bài  " Vịnh năm Ngựa 2014":
Ngựa thuần mấy bận quên đường cũ
Ngựa chứng bao lần mộng lối hoang
Ngựa đã thắng cương vào thế cuộc
Ngựa tràn khát vọng đỉnh vinh quang.

Không chỉ nhân cách hóa các con vật, mà đến những đồ vật, sông núi, trăng sao, gió mây, cây cỏ... cũng có trong thơ tôi với mong muốn mô tả nội tâm sống động muôn vẻ của chúng theo phong cách hướng ngoại vậy.
Như là đời những chiếc lá mỏng manh trong bài "Đời lá" để cảm nhận sắc lá hóa đời:
Lá trọn đời chăm lo nhựa trắng
Lá từng ngày khát vọng trời xanh
Lá vàng thanh thản rơi về cội
Lá để lại cây trái tím lành.

Hay quan sát "Mùa lá bàng đỏ" để chiêm nghiệm cái nét cội nguồn:
Lá vợi trên nhành rơi xuống gốc
Xuân tràn trước ngõ lướt qua Đông
Đời như chiếc lá bên trời ấy
Cháy hết thời xanh mới rực hồng.

Hoặc là qua bài "Hồn đá" trong thơ tôi, viết về một nét thanh tao bất khuất:
Bao dung tự tại vươn thành núi
Thoáng đãng kiêu hùng vững vách non
Chuyển núi, dời ngàn cam đổi dạng
Nhưng hồn vẫn giữ tấm keo sơn.

Và rồi có cả mùa xoan về trong bài "Xoan vào hạ" để ghi lại một chút bâng khuâng :
Phất phơ gió thoảng hương dìu dịu
Lãng đãng nắng xe cánh tím tươi
Mỗi khi giao cảm xoan vào hạ
Chợt nhớ bao lần Xuân tím trôi.

Cả những vầng trăng luôn biến đổi theo thời gian, trích từ bài "Trăng hẹn" :
Trước tháng dầu non mà chẳng nhạt
Sang tuần mặc khuyết đã không sờn
Đến hẹn lại về không lỗi hẹn
Ngàn năm tròn khuyết vẫn keo sơn

Và có những giây phút đứng trước cơn sóng tự nhiên cho ta cái phiêu lãng, trích ở bài  "Sóng thu"
Đã mấy mùa pha sương đội nắng
Từng bao bận lội suối chao ghành
Sóng Thu xao động tình phiêu lãng
Ở phía dòng trôi bóng rặng xanh.

Và có những cơn "Sóng tình" ngỡ như lăn tăn, cuồn cuộn làm rộn bước đời ta ngay cả khi tưởng chừng như tĩnh lặng:
Lăn tăn, sóng sánh ngày mưa tạnh
Cuồn cuộn, trào dâng tháng lũ trôi
Dẫu khi triều đã sâu về biển
Sóng vẫn còn lưu dấu những thời.

Trong thơ tôi còn có những nét riêng của người làm thơ khi được chung vui uống rượu với bầu bạn, như thể rằng:
Khoái chí liêu xiêu bay với gió
Sầu lòng ngất ngưởng liệng cùng mây (theo bài "Tỉnh - say") :

Hoặc, từ bài "Thơ và rượu" để chia sẻ :
Không danh, chẳng lợi vui thơ rượu
Ắp rượu, đầy thơ thú đất trời
Đáng chi lũ uống chùng ăn xổi
Tàn trước rượu thơ hết thảy rồi.

Hoặc cùng thú chơi cờ ở tuổi cao niên, trong bài  "Cuộc cờ chưa kết" :
Chốt một tìm cơ lên giữa khích
Tịnh đôi tính nước ém biên chơi
Pháo gầm dâng trước rà xe tiến
Ngựa hí sang ngang cản pháo lùi
Tiến thủ đôi bên chưa thắng bại
Trời khuya đã sập ngõ lâu rồi.

Thơ tôi đã viết về các mùa Xuân – Hạ - Thu – Đông theo những sắc màu chung và riêng

Khi mùa Xuân sang (trích bài "Xuân Sang"), giữa vô vàn chim muông, cỏ hoa tươi mới:
Cau xanh trước ngõ bung hương thoảng
Đào thắm trong vườn ươm nụ tươi
Lảnh lót chuông chùa ngân phía núi
Dập dìu cánh én liệng lưng trời
Mai nay khép lại Đông tê tái
Mở cửa đón ngày Xuân mới tươi.

Khi mùa Xuân về thì mầm hy vọng nhú lên, tinh thần sảng khoái thêm, để :
Dốc đứng đèo cao nào nản chí
Sông sâu vực thẳm chẳng chùn chân
Ất Mùi ước vọng luồng sinh khí
Hạnh phúc – An bình – Vận hội hanh (Trích bài "Bức tranh Dê 2015 ")

Và khi đón thêm một mùa Xuân mới thì cũng chính là ta đã vợi đi một mùa Đông cũ, để nhận ra rằng từ trong mùa Đông ấy đã chớm mở mùa Xuân mai nay:
Lạc chốn giao hòa Đông chớm Xuân
Bên trời man mác sóng giai âm
Mùa đi tuổi ở quên ngày lão
Trái vợi nhánh còn nhớ tuổi mầm (trích bài ”Đông chớm Xuân”)

Với nghề nghiệp, tôi cảm thức đôi điều về cái thần, cái nền của bảng đen phấn trắng :
Bảng sắc thâm đen cho nét chữ
Phấn màu bạc trắng để niêm dòng
Nơi đây tụ hội bao tri thức
Chốn ấy mở mang những tấm lòng. (trích bài "Phấn trắng bảng đen")

Cũng như càng hiểu cái cốt, cái chất của người thầy dạy học là ở cái tâm can:
Đạt phận "trung tâm" là kẻ học
Nên danh "điểm tựa" ở tâm can 
Tâm trong để lái đò về bến
Can vững mà ươm trái chín cành. (trích bài "Người thầy")

Và khi ngẫm về cái sự đời, tôi đã có những trải nghiệm vào thơ:
Chớ bực hoài lời phê phản bác
Đừng vui mãi khúc nhạc hoan ca
Đôi khi kẻ lạ giờ thành bạn
Có lúc đường gần nay hóa xa. (trích từ bài "Ngẫm sự")

Tôi đã cảm nhận một điều rằng : ở lứa tuổi  70 - "xưa nay hiếm" thì "Cảnh nhàn" thực sự đạt tới đỉnh cao - hơn mọi bậc tuổi lão nào hết, vi còn:
Nghe nhạc đôi dòng khi phấn khích
Họa thơ dăm vận lúc thăng hoa
Đã qua phố mạc thời ban sớm
Từng trải làng quê buổi bóng tà...

Và khi đó, mình ngỡ như được rạo rực trong đời sống không vướng bụi trần, ắp đầy thơ mộng :
Ân tình cuộc sống ngời tâm thức
Nơi chốn thế gian cũng Niết Bàn. (Trích theo bài "Ân tình-ĐINHNGAN").
Cũng như :
Lối phố bàng lay bay trút lá
Vườn quê đào lú nhú đơm bông
Sáu Chín Đông qua, Xuân ở lại
Để mà yêu dấu để mà mong. (trích bài "Sáu Chín Đông qua")

Vâng, một vài nét bộc bạch để "Tản mãn cùng Tôi" là thế.
Trở về với bài thơ xướng "Cập Bến Bảy Mươi" mà tôi đã lấy làm tên cho thi phẩm này
để trích 2 câu mở và 2 câu kết trong bài, rằng:
Xuân nay Cập Bến Bảy Mươi rồi
Ngẫm lại từng qua mấy thế thời...
Vun đắp niềm tin và khát vọng
Thung dung viết tiếp những trang đời.

Tôi chân thành cám ơn và nâng niu những bài thơ họa từ các bạn thơ gửi tới tặng tôi nhân dịp vào tuổi Bảy Mươi. Tôi xin hẹn, nếu có thể, sẽ giành thời gian chia sẻ với bạn đọc về những cảm xúc của mình trước những bài thơ họa từ các bạn thơ mà tôi đã nhận được đã được xuất bản trong thi phẩm này

Và cuối cùng, tôi xin trích dẫn QĐ của NXB để khép lại bài giới thiệu thi phẩm CBBM:
Ý kiến của BTV NXB:
>Tóm tắt nội dung bản thảo: “Cảm xúc và tinh thần yêu đời, yêu quê hương đất nước của tác giả vào tuổi Bảy mươi.”
> Ý kiến đề xuất: “Bản thảo có nội dung tốt, đề nghị Giám đốc cấp phép để in”. Phan Lê Hạnh Nhơn.
Ý kiến Trưởng ban biên tập:
Đề tài đã được CXB xác nhận số 1908-2015/CXB1DH/06-73/ThuH

Theo QĐ số 84/QĐ-NXBTH, Thừa Thiên Huế, ngày 28 – 7 – 2015, Giám đốc Nguyễn Duy Tờ

Chủ Nhật, 25 tháng 5, 2014

HCSN- BÁO CÁO (1)

Bài số 39
Số dư đầu kỳ của các tài khoản trong đơn vị sự nghiệp có thu như sau (ĐVT: 1000đ)
TT
TK
Tiền
TT
TK
Tiền
1
111
18.000
12
461
5.275.800
2
112
360.000
13
462
1.656.324
3
152
38.340
14
465
727.380
4
153
18.900
15
466
1.635.300
5
211
1.995.300
16
511
452.880
6
214
360.000
17
531
73.800
7
241
42.480
18
631
11.664
8
311
205.236
19
643
20.700
9
312
23.400
20
635
302.220
10
337
45.900
21
661
5.472.576
11
341
243.000
22
662
1.475.568

Trong kỳ có các nghiệp vụ mới phát sinh, gồm:


1
Phiếu thu số 200, ngày 4/11, rút tiền kho bạc để chuẩn bị chi tiêu
93.600
2
Phiếu chi tiền mặt, số 256, ngày 6/11 mua vật liệu nhập kho:
14.040
3
Phiếu chi, số 257, ngày 10/11, trả lương cho viên chức
58.500
4
Phiếu nhập kho, số 189, ngày 10/11, về công cụ mua chưa trả tiền, theo giá hóa đơn

27.900
5
Phiếu thu, số 201. ngày 15/11, về tiền lãi cho vay của nguồn dự án tài trợ
2.340
6
Phiếu xuất kho, số 170, ngày 15/11 về các loại:
-

* Vật liệu sử dụng cho hoạt động sự nghiệp
29.700

* Vật liệu xuất dùng cho hoạt động thực hiện dự án
12.600
7
Phiêu chi số 258, ngày 19/11, về số tiền đã chi hộ cho Đơn vị cấp trên
7.020
8
Ngày 1/12, Giấy thanh toán số 176, rút dự toán chi kinh phí trả tiền dụng cụ còn
nợ nhà cung cấp tháng trước

25.200
9
Ngày 10/12, Phiếu xuất kho số 171, để thi công SCL TSCĐHH, dùng trong sự nghiệp

10.080
10
Mua TSCĐHH bằng dự toán chi kinh phí sự nghiệp đã đưa vào sử dụng theo biên bản nghiệm thu, số 53,  ngày 12/12

433.800
11
Ngày 13/12, Bảng phân bổ lương, số 24a, vào hoạt động sự nghiệp
129.600
12
Ngày 13/12, Bảng phân bổ BHXH, BHYT, KPCĐ, số 24b, vào hoạt động sự nghiệp


13
Ngày 13/12, Bảng phân bổ lương, số 24c, vào hoạt động dự án
18.000
14
Ngày 13/12, Bảng phân bổ BHXH, YT, KPCĐ, số 24d, vào hoạt động dự án

15
Ngày 13/12, Bảng phân bổ lương, số 24e, vào hoạt động SXKD
86.400
16
Ngày 13/12, Bảng phân bổ BHXH, YT, KPCĐ, số 24d, vào hoạt động SXKD

17
Ngày 15/12, Bảng tính phân bổ khấu hao TSCĐHH số 2 như sau:
75.600

* TSCĐHH dùng vào hoạt động sự nghiệp
18.720

* TSCĐHH dùng vào hoạt động sản xuất, kinh doanh
15.120

* TSCĐHH dùng vào hoạt động XDCB phục vụ SXKD
23.040

* TSCĐHH dùng vào hoạt động Dự án
11.520

* TSCĐHH dùng vào hoạt động phúc lợi cơ quan
7.200
18
Hóa đơn cung cấp dịch vụ số 60, ngày 18/12 về số tiền khách hàng chấp nhận thanh toán  giá bán cả thuế GTGT, thuế suất 10% theo phương pháp khấu trừ là:


198.000
19
Bảng tính giá thánh sản phẩm, dịch vụ số 12, ngày 20/12, về số dịch vụ đã cung cấp trong tháng

145.800
20
Xuất dùng công cụ dụng cụ loại phân bổ hai lần, theo giá xuất kho để sử dụng trong hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ theo phiếu xuất số 172 ngày 20/12


32.400
21
Chứng từ kết chuyển số 48 , ngày 20/12 về Tổng hợp các khoản chi hoạt động sự nghiệp của đơn vị cấp dưới nộp lên

144.000
22
Chứng từ kết chuyển  số 49, ngày 20/12 về tổng hợp các khoản chi hoạt động dự án của  đơn vị cấp dưới nộp lên

99.000
23
Biên bản nghiệm thu  số 54, ngày 25/12 về việc dùng tiền gửi (Theo giấy Báo Nợ số 25689, ngày 20/12) để mua TSCĐHH phục vụ theo đơn đặt hàng. TSCĐ đã được nghiệm thu, theo Biên bản số 55, ngày 25/12, theo giá mua, số tiền



113.400
24
Biên bản nghiệm thu  số 56, ngày 25/12, về TSCĐHH do XDCB bàn giao, đưa vào sử dụng, giá thành hợp lý là

75.600

* Trong đó: Kinh phí năm trước chuyển sang là
45.900
25
Xuất công cụ lâu bền sử dụng cho hoạt động sự nghiệp theo phiếu xuất kho số 173, ngày 25/12

14.400
26
Biên bản nghiệm thu số 57, ngày 25/12 về Mua TSCĐHH bằng Tiền gửi Kho bạc đã đưa vào sử dụng cho dự án

52.200
27
Biên bản xác nhận số 18, ngày 23/12 về những khoản chi không đúng chế độ sử dụng kinh phí dự án, chờ xử lý

4.500
28
Giấy thanh toán tạm ứng số 156, ngày 27/12, về khoản khấu vào lương cán bộ
19.800
29
Biên bản thanh lý TSCĐHH, số 20, ngày 29/12, xác định TSCĐHH "GH" đang dùng trong hoạt động sự nghiệp đã thanh lý:
-

* Nguyên giá
55.800

* Đã khấu hao
46.800
30
Phiếu Thu, số 202, ngày 29/12 về thu hồi giá trị thanh lý TSCĐHH "GH"
5.400
31
CTGS số 50, ngày 29/12, về kết chuyển chi phí thực tế phát sinh trong sản xuất sản phẩm, hoàn thành công việc theo đơn đặt hàng của Nhà nước

415.620
32
CTGS số 51, ngày 29/12, về kết chuyển giá trị khối lượng sản phẩm, công việc dã hoàn thành theo đơn đặt hàng được nghiệm thu thanh toán theo giá thanh toán là


468.000
33
CTGS, số 53, ngày 29/12, về kết chuyển chênh lệch thu chi các  hoạt động sản xuất, kinh doanh và cung ứng dịch vụ vào TK 421

108.000
34
Ngày 30/12, CTGS số 54, trích các khoản thu sự nghiệp bổ sung kinh phí
513.000
35
CTGS số 55, ngày 30/12, trích chênh lệch thu - chi chưa xử lý bổ sung
kinh phí hoạt động

30.600
36
Theo Quyết toán năm tài chính:
-

a. CTGS, ngày 31/12, chi phí hoạt động được quyết toán kinh phí
6.134.400

b. CTGS số 57, ngày 31/12, chi phí dự án được quyết toán kinh phí
1.557.324

Yêu cầu:



1/ Ghi các nghiệp vụ vào sổ NKC (trích lược)



2/ Lập Bảng cân đối tài khoản theo các tài khoản cấp 1.
NHẬT KÝ CHUNG                                                                                              

N vụ
TK Nợ
TK Có
Tiền

N vụ
TK Nợ
TK Có
Tiền
(1)
(2)
(3)
(4)

(1)
(2)
(3)
(4)
1
1121
1111
93.600

18a
3111
531
180.000
2
152
1111
14.040

18b
3111
33311
18.000
3
334
1111
58.500

19
531
631
145.800
4
153
3311
27.900

20a
643
153
32.400
5
111
5118
2.340

20b
635
643
16.200
6a
661
152
29.700

21
461
341
144.000
6b
662
152
12.600

22
462
341
99.000
7
342
1111
7.020

22a
211
1121
113.400
8a
3311
461
25.200

22b
635
466
113.400
8b

008
25 200





9
2413
152
10.080

24a
211
2412
75.600
10a
211
461
433.800

24b
3373
466
45.900
10b
661
466
433.800

24c
661
466
29.700
10c
008

433 800

25a
661
153
14.400
11
661
334
129.600

25b
005
14 400

12
661
332
29.808

26a
211
1121
52.200
13
662
334
18.000

26b
662
466
52.200
14
662
332
4.140

27
3118
662
4.500
15
635
334
86.400

28
334
312
19.800
16
635
332
19872

29a
214
211
46.800
17a
466
214
18.720

29b
466
211
9.000
17b
635
214
15.120

30
1111
5118
5.400
17c
466
214
23.040

31
5112
635
415.620
17d
466
214
11.520

32
465
5112
468.000
17e
466
214
7.200

33
531
421
108.000





34
511
461
513.000





35
421
461
30.600





36
461
661
6.134.400





37
462
662
1.557.324





Cộng
x
x
11.956.644